(Người Chăn Nuôi) – Từ cuộc đua tăng đàn, tăng sản lượng, ngành chăn nuôi đang bước vào một cuộc cạnh tranh khác, nơi chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc và mức độ thân thiện với môi trường ngày càng quyết định giá trị sản phẩm. “Một kilogram thịt” không còn được đánh giá chỉ bằng trọng lượng hay giá bán, mà bằng cả câu chuyện phía sau sản phẩm.
Từ số lượng sang nhu cầu
Trong một thời gian dài, sản lượng đàn vật nuôi và sản lượng thịt, trứng, sữa là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, khi quy mô sản xuất ngày càng lớn, câu chuyện tăng trưởng đã chuyển sang một vấn đề khác.
Thay vì bắt đầu từ năng lực sản xuất rồi tìm đầu ra, ngành chăn nuôi cần tổ chức sản xuất dựa trên tín hiệu thị trường. Người tiêu dùng muốn sản phẩm gì, phân khúc nào đang tăng trưởng, thị trường xuất khẩu yêu cầu tiêu chuẩn gì, sản phẩm nào có khả năng chế biến sâu và tạo giá trị gia tăng cao hơn…; phải trở thành cơ sở để quyết định quy mô và phương thức sản xuất.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến từng nhấn mạnh, ngành chăn nuôi có tiềm năng lớn nhưng muốn trở thành “bếp ăn của thế giới” phải tự làm mới mình. Trong đó, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và liên kết “3 nhà” được xác định là những yếu tố quan trọng để nâng giá trị ngành.
Từ góc độ thị trường, điều này đồng nghĩa với việc sản lượng không còn là đích đến cuối cùng. Bởi hiện nay, tỷ lệ chế biến sâu, giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm, khả năng mở rộng thị trường và mức độ đa dạng hóa đầu ra cần được xem là những chỉ số ngày càng quan trọng.
Bởi vậy, liên kết chuỗi trong chăn nuôi hiện đại trở thành một trong những hướng đi cốt lõi. Theo số liệu được công bố tháng 9/2026, cả nước có gần 3.000 dự án, kế hoạch liên kết chuỗi nông sản với sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp, hợp tác xã và hơn 211.000 hộ nông dân. Riêng chăn nuôi có 695 dự án, kế hoạch liên kết, chiếm 23,7% tổng số dự án liên kết nông nghiệp; trong đó, có 209 chuỗi liên kết thịt heo và 150 chuỗi liên kết thịt, trứng gia cầm.
Thước đo hiệu quả công nghệ
Nếu thị trường quyết định sản phẩm thì hiệu quả sản xuất quyết định khả năng cạnh tranh. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thức ăn chăn nuôi vẫn là khoản chi phí lớn trong chuỗi giá trị.
Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y Phạm Kim Đăng, thức ăn chiếm khoảng 60 – 70% giá thành sản xuất, trong khi 70 – 80% một số nhóm nguyên liệu như ngô, đậu tương và phụ gia vẫn phải nhập khẩu. Vì vậy, biến động giá nguyên liệu thế giới có thể tác động trực tiếp tới giá thành sản phẩm trong nước.
Một trang trại có quy mô lớn nhưng tiêu tốn nhiều thức ăn, năng lượng, nước và nhân công vẫn có thể gặp khó khăn về giá thành. Vì thế, FCR (hệ số chuyển đổi thức ăn) trở thành một trong những chỉ số thiết yếu. Cùng một lượng thức ăn nhưng vật nuôi tăng trọng nhanh hơn, khỏe hơn và đạt trọng lượng xuất bán trong thời gian ngắn hơn sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn.
Hiện nay, khoa học công nghệ đang giúp tìm ra lời giải cho bài toán này. Tự động hóa cho ăn, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, thông gió, theo dõi sức khỏe vật nuôi, phân tích dữ liệu tăng trưởng và cảnh báo dịch bệnh đang từng bước chuyển chăn nuôi từ quản lý bằng kinh nghiệm sang quản trị bằng dữ liệu.
Theo thông tin được công bố tại một số mô hình chăn nuôi công nghệ cao, Công ty Greenfeed đã tự động hóa trên 70% ở nhiều khâu sản xuất, giúp tiết kiệm nước và điện; trong khi C.P. Việt Nam đang phối hợp phát triển các giải pháp AI và chuyển đổi số cho chuỗi Feed – Farm – Food.
Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, giai đoạn 2026 – 2030, ngành cần tập trung vào các công nghệ lõi, trong đó có chọn giống theo hệ gen, AI trong chẩn đoán dịch bệnh, tự động hóa và xây dựng dữ liệu lớn.
Như vậy, công nghệ không còn được đo bằng số lượng máy móc được đầu tư mà bằng hiệu quả hệ tạo ra, là giảm FCR, giảm chi phí, tăng năng suất, giảm hao hụt, phát hiện sớm dịch bệnh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Thước đo này còn mở rộng sang kinh tế tuần hoàn, khi một trang trại hiện đại phải xử lý tốt chất thải, tận dụng phụ phẩm, tạo biogas, phân hữu cơ, tiết kiệm nước và năng lượng, giảm phát thải.
An toàn dịch bệnh trở thành điều kiện của thị trường
Với ngành chăn nuôi, một đàn vật nuôi có năng suất cao nhưng dễ nhiễm bệnh không thể tạo ra tăng trưởng bền vững. Tại nhiều địa phương, nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi, và các bệnh truyền nhiễm khác có thể làm đảo lộn sản xuất, gây thiệt hại cho người chăn nuôi và ảnh hưởng tới nguồn cung. Chính vì thế, an toàn sinh học và an toàn dịch bệnh hiện nay đang chuyển từ một yêu cầu kỹ thuật thành một chỉ số cạnh tranh.
Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP BAF Việt Nam cho rằng, dịch bệnh, đặc biệt dịch tả heo châu Phi, đã làm thay đổi căn bản cách nhìn về sản xuất. Nếu trước đây thiết kế trang trại chủ yếu hướng tới tối ưu năng suất, thì hiện nay khả năng kiểm soát rủi ro sinh học trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng.
Thực tế tại các trang trại cũng cho thấy chi phí cho an toàn sinh học không nhỏ. Đại diện một doanh nghiệp chăn nuôi cho biết, chi phí đầu tư phòng chống dịch của trang trại tăng khoảng 20 – 30% so với thông thường và hệ thống phòng dịch làm tăng gần 10% giá vốn sản phẩm.
Với xuất khẩu, yêu cầu còn cao hơn khi các thị trường ngày càng quan tâm tới vùng nuôi, quy trình an toàn sinh học, kiểm soát thuốc thú y, dư lượng kháng sinh, giết mổ và chế biến. Do đó, xây dựng vùng, cơ sở và chuỗi an toàn dịch bệnh đạt tiêu chuẩn quốc tế phải được xem như một khoản đầu tư mở cửa thị trường, chứ không chỉ là nhiệm vụ thú y.
Chính vì thế, trong Kế hoạch quốc gia phòng, chống các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi giai đoạn 2026 – 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 2/5/2026, trọng tâm sẽ đặt vào giám sát, cảnh báo sớm, an toàn sinh học, vaccine, kiểm soát giết mổ và xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh, hướng tới hệ thống phòng chống dịch hiện đại và đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Hình thành chuỗi giá trị và dữ liệu minh bạch
Thước đo cuối cùng và cũng là yếu tố quan trọng là khả năng liên kết chuỗi và truy xuất nguồn gốc. Nếu sản xuất vẫn bị chia cắt thành từng khâu riêng lẻ thì doanh nghiệp khó kiểm soát chất lượng từ đầu vào đến đầu ra, người chăn nuôi khó tiếp cận công nghệ và thị trường, còn người tiêu dùng khó biết sản phẩm được tạo ra như thế nào. Vì vậy, mô hình 3F (Feed – Farm – Food) ngày càng có ý nghĩa.
Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đang đi theo hướng này. Một ví dụ là Mavin, doanh nghiệp này đã triển khai mô hình 3F, ứng dụng hệ thống quản trị SAP ERP và tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào chiến lược phát triển. Trong khi, C.P. Việt Nam cũng vận hành chuỗi sản xuất khép kín, chú trọng khâu chế biến và xuất khẩu.
Tuy nhiên, liên kết chuỗi hiện đại không chỉ dừng ở hợp đồng mua bán mà phải được liên kết bằng dữ liệu. Nguồn gốc con giống, thức ăn, lịch tiêm phòng, thuốc thú y, tốc độ tăng trưởng, điều kiện chuồng nuôi, quá trình vận chuyển, giết mổ và chế biến cần được số hóa để có thể truy xuất đến từng khâu. Điều đó có nghĩa, chuỗi cung ứng hiện đại phải có “lý lịch” rõ ràng và có thể kiểm chứng.
Nhìn từ bốn thước đo này có thể thấy ngành chăn nuôi đã và đang đặt khoa học công nghệ, kiểm soát dịch bệnh, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi đã và vào trung tâm của quá trình tái cấu trúc. Sự chuyển đổi ấy sẽ quyết định không chỉ quy mô mà cả chất lượng tăng trưởng của ngành chăn nuôi Việt Nam trong giai đoạn tới.
Phan Thảo
The post Chăn nuôi Việt: “Cuộc đua” chất lượng và công nghệ appeared first on Tin tức Chăn nuôi – Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam.




